Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên từ ngày 01/7/2026 như thế nào?

Xuất bản: 08-09-2026
Quy định về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên từ ngày 01/7/2026 như thế nào? Nơi cư trú của người chưa thành niên được định nghĩa ra sao?

Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên từ ngày 01/7/2026 như thế nào?

Theo Điều 7 Nghị định 154/2024/NĐ-CP sửa đổi bởi khoản 4 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 quy định về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên như sau:

(1) Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.

Trường hợp người chưa thành niên đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại nơi thường trú, nơi tạm trú không phải là nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ thì cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ thực hiện kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.

Trường hợp người chưa thành niên được Tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú.

(2) Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên.

Trường hợp cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 6 tuổi có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ.

(3) Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên theo quy định tại Điều 4 Nghị định 154/2024/NĐ-CP.

(4) Trường hợp đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho người dưới 6 tuổi tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định tại (2) thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.

Như vậy, quy định mới từ ngày 01/7/2026 đã làm rõ hơn trách nhiệm của cha, mẹ, người giám hộ khi đăng ký cư trú cho người chưa thành niên, đồng thời bổ sung quy định riêng đối với trẻ dưới 6 tuổi về nơi đăng ký thường trú và trường hợp được miễn kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký cư trú. So với quy định trước đây, phạm vi áp dụng của một số thủ tục đã được xác định cụ thể hơn theo độ tuổi.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/dang-ky-cu-tru-cho-nguoi-chua-thanh-nien.jpg

Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên từ ngày 01/7/2026 như thế nào? (Hình từ Internet)

Nơi cư trú của người chưa thành niên được định nghĩa như thế nào?

Theo Điều 12 Luật Cư trú 2020 sửa đổi bởi khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 có quy định như sau:

Điều 12. Nơi cư trú của người chưa thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống; trường hợp không xác định được nơi thường xuyên chung sống thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.
2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Theo đó, nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ.

Trường hợp cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì xác định theo nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.

Nếu không xác định được người chưa thành niên thường xuyên chung sống với cha hay mẹ thì nơi cư trú được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định nơi cư trú của người chưa thành niên.

Ngoài ra, pháp luật cho phép người chưa thành niên có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

3 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý