Xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của người khác bị xử lý thế nào?

Quy định về tội xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của công dân theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành.

Xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của người khác bị xử lý thế nào?

Quyền bầu cử và quyền ứng cử là những quyền chính trị quan trọng của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, mọi hành vi cản trở, xâm phạm hoặc gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền này đều có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Điều 160 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử như sau:

(1) Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 02 năm:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân.

(3) Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Xâm phạm quyền của công dân về bầu cử ứng cử khi Nhà nước trưng cầu ý dân bị xử lý thế nào?

Xâm phạm quyền bầu cử, ứng cử của người khác bị xử lý thế nào? (Hình từ Internet)

Tuổi bầu cử, ứng cử của công dân là bao nhiêu?

Quyền bầu cử và quyền ứng cử là những quyền chính trị quan trọng của công dân, thể hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, để thực hiện các quyền này, công dân phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi theo quy định pháp luật.

Căn cứ theo Điều 27 Hiến pháp 2013 có quy định:

Điều 27.
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Đồng thời, căn cứ theo Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 có quy định về tuổi bầu cử và tuổi ứng cử:

Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử
Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.

Như vậy, tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân:

+ Đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử;

+ Đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định.

Ví dụ, nếu ngày bầu cử được công bố là ngày 20/5 và một công dân đến ngày 25/5 mới đủ 18 tuổi thì người đó vẫn chưa đủ điều kiện thực hiện quyền bầu cử trong kỳ bầu cử đó.

Ngoài điều kiện về độ tuổi, công dân muốn thực hiện quyền ứng cử còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn tại Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015

- Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội.

- Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Ví dụ, một công dân đã đủ 21 tuổi nhưng nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định đối với đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân thì vẫn có thể không đủ điều kiện để trở thành người ứng cử.

Như vậy, công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử theo quy định của pháp luật.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | trinhkimquocdung
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý