GDKTPL 12 Bài 15: Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như thế nào?

Xuất bản: 10-10-2026
Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình thể hiện như thế nào?

Thế nào là vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa?

Theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là những vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982:

- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng mười hai hải lý (khoản 2 Điều 4 Luật Biên giới quốc gia 2003).

- Vùng đặc quyền về kinh tế: Là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng hai trăm hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác (khoản 3 Điều 4 Luật Biên giới quốc gia 2003).

- Vùng thềm lục địa: Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ờ khoảng cách gần hơn. (khoản 1 Điều 76 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982).

Như vậy, ba vùng biển trên có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau nhưng đều là cơ sở để Việt Nam thực hiện các quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trên biển.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/quyen-chu-quyen-cua-viet-nam-vung-tiep-giap-lanh-hai.jpg

GDKTPL 12 Bài 15: Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như thế nào? (Hình từ Internet)

Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như thế nào?

Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được thể hiện khác nhau tùy thuộc vào tính chất và phạm vi quyền của Việt Nam tại từng vùng biển. Về bản chất, đây không phải là chủ quyền đầy đủ như đối với lãnh thổ đất liền hay lãnh hải, mà là những quyền đặc biệt được pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, ghi nhận nhằm bảo đảm cho Việt Nam có thể quản lý, khai thác và bảo vệ các lợi ích của mình trên biển.

Quyền chủ quyền của Việt Nam đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình thể hiện ở những nội dung sau:

- Đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, quyền của Việt Nam trước hết thể hiện ở việc Việt Nam có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết, nhằm: ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình; trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. Đồng thời, Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền chủ quyền và các quyền khác ở vùng tiếp giáp lãnh hải như trong vùng đặc quyền về kinh tế.

- Đối với vùng đặc quyền kinh tế, Việt Nam có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lí các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió; các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định. Tất cả các quốc gia khác đều được hưởng ba quyền tự do cơ bản là: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp ngầm (Điều 58 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982).

- Đối với thềm lục địa, quyền chủ quyền của Việt Nam thể hiện ở việc Việt Nam có toàn quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của vùng này, bao gồm các tài nguyên thiên nhiên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các sinh vật thuộc loại định cư, nghĩa là những sinh vật nào, ở thời kì có thể đánh bắt được, hoặc nằm bất động ở đáy, hoặc lòng đất dưới đáy; hoặc là không có khả năng di chuyển nếu không có khả năng tiếp xúc với đáy hay lòng đáy dưới đáy biển.

Đây là các đặc quyền riêng của Việt Nam, các quốc gia khác không được xâm phạm. Việt Nam có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa vào bất kỳ mục đích gì. Tất cả các quốc gia khác có thể đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của Việt Nam, riêng việc lắp đặt tuyến ống dẫn ngầm cần có sự thỏa thuận của Việt Nam về tuyến ống dẫn. Tàu thuyền và phương tiện bay của tất cả các quốc gia khác đều có quyền tự do hàng hải và hàng không trong vùng nước, vùng trời phía trên thềm lục địa của Việt Nam, phù hợp với quy định của Công ước.

Như vậy, quyền chủ quyền của Việt Nam tại các vùng biển trên chủ yếu thể hiện ở quyền kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải; thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lí tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là những quyền đặc biệt của Việt Nam nhưng phải được thực hiện trong khuôn khổ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích quốc gia và việc tôn trọng các quyền, tự do hợp pháp của các quốc gia khác.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

15 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý