Nghị quyết và Nghị định cái nào có giá trị pháp lý cao hơn?

Trong hệ thống văn bản pháp luật, Nghị quyết và Nghị định cái nào có giá trị pháp lý cao hơn?

Nghị quyết và Nghị định cái nào có giá trị pháp lý cao hơn?

Căn cứ Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025), mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những loại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và các văn bản này được sắp xếp theo thứ bậc hiệu lực từ cao xuống thấp.

Trong đó, “Nghị quyết” là tên gọi của nhiều loại văn bản do nhiều cơ quan khác nhau ban hành như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ hay Hội đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, không phải mọi Nghị quyết đều có cùng giá trị pháp lý.

Ví dụ, Nghị quyết của Quốc hội có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định của Chính phủ vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Trong khi đó, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã lại có hiệu lực pháp lý thấp hơn Nghị định của Chính phủ do cơ quan ban hành có thẩm quyền thấp hơn.

Như vậy, muốn xác định Nghị quyết hay Nghị định có giá trị pháp lý cao hơn thì cần căn cứ vào cơ quan ban hành văn bản đó, chứ không thể chỉ dựa vào tên gọi của văn bản.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/BN/nghi-quyet-va-nghi-dinh-cai-nao-co-gia-tri-phap-ly-cao-hon.jpg

Nghị quyết và Nghị định cái nào có giá trị pháp lý cao hơn? (Hình từ Internet)

Chính phủ ban hành Nghị định để quy định những nội dung gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, Chính phủ ban hành Nghị định để quy định những nội dung sau:

(i) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

(ii) Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp; các biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ 02 Bộ, cơ quan ngang Bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ; phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn;

(iii) Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

7 | huynhlebinhnhi
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý