Bắt người trong trường hợp nào được xem là đúng pháp luật?

Hành vi tự tiện bắt người khác xâm phạm đến quyền nào của công dân? Bắt người trong trường hợp nào được xem là đúng pháp luật?

Hành vi tự tiện bắt người khác xâm phạm đến quyền nào của công dân?

Hành vi tự tiện bắt người khác là hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Đây là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật và Hiến pháp bảo vệ.

Tại Điều 20 Hiến pháp 2013 có quy định như sau:

Điều 20.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

Như vậy, pháp luật quy định rõ không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cá nhân tự ý bắt, giữ hoặc giam người trái phép thì tùy tính chất và mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/bat-nguoi-dung-phap-luat.jpg

Bắt người trong trường hợp nào được xem là đúng pháp luật? (Hình từ Internet)

Bắt người trong trường hợp nào được xem là đúng pháp luật?

Bắt người được xem là đúng pháp luật khi việc bắt giữ được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự và thuộc các trường hợp mà pháp luật cho phép. Quyền bắt người không thể được thực hiện tùy tiện vì đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Căn cứ khoản 2 Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định:

Điều 20.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

Theo quy định trên, một người chỉ bị bắt trong các trường hợp có quyết định của cơ quan có thẩm quyền như Tòa án nhân dân hoặc Viện kiểm sát nhân dân, hoặc khi người đó đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang. Điều này nhằm bảo đảm quyền con người và tránh tình trạng bắt giữ trái pháp luật.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định như sau:

Điều 109. Các biện pháp ngăn chặn
2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Theo đó, trong tố tụng hình sự, cũng quy định các trường hợp được phép bắt người, bao gồm:

- Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

- Bắt người phạm tội quả tang;

- Bắt người đang bị truy nã;

- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;

- Bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Tuy nhiên các trường hợp bắt người nêu trên phải thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Như vậy, chỉ những trường hợp được pháp luật quy định cụ thể mới được tiến hành bắt người. Đồng thời, việc bắt người phải do cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

3 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý