Chủ sở hữu tài sản được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình đúng hay sai?
Xuất bản: 14-09-2026Nội dung chính
Chủ sở hữu tài sản được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình đúng hay sai?
Điều 186 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu như sau : "Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội."
Theo quy định hiện hành, có thể thấy nhận định: "Chủ sở hữu tài sản được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình" là sai. Nhận định này chưa đầy đủ vì đã bỏ qua giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện quyền chiếm hữu tài sản.
Cụ thể, chủ sở hữu có quyền thực hiện các hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý và chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu. Tuy nhiên, quyền chiếm hữu không phải là quyền tuyệt đối. Khi thực hiện quyền này, chủ sở hữu không được thực hiện các hành vi trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Như vậy, ý chí của chủ sở hữu trong việc nắm giữ, quản lý và chi phối tài sản vẫn phải nằm trong giới hạn mà pháp luật và đạo đức xã hội đặt ra.
Ví dụ, một người là chủ sở hữu của một chiếc xe đạp thì có quyền trực tiếp nắm giữ và quản lý chiếc xe, như quyết định nơi cất giữ, bảo quản hoặc giao người khác trông giữ. Tuy nhiên, người đó không thể lấy lý do mình là chủ xe để chiếm giữ chiếc xe bằng cách đe dọa, cưỡng ép người khác giao lại chiếc xe hoặc dùng việc chiếm giữ tài sản để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Tóm lại, quyền chiếm hữu cho phép chủ sở hữu chủ động nắm giữ, quản lý và chi phối tài sản của mình theo ý chí, nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Quy định này vừa bảo đảm quyền tự chủ của chủ sở hữu trong việc nắm giữ, quản lý tài sản, vừa đặt ra giới hạn cần thiết để việc chiếm hữu không ảnh hưởng đến trật tự pháp luật và các chuẩn mực đạo đức trong xã hội.

Chủ sở hữu tài sản được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình đúng hay sai? (Hình từ Internet)
Thế nào là chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau:
- Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
- Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
- Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
- Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Việc chiếm hữu tài sản không thuộc các trường hợp nêu trên là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Như vậy, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc một chủ thể thực tế nắm giữ, quản lý tài sản trên cơ sở được pháp luật công nhận hoặc cho phép. Những căn cứ này giúp xác định tính hợp pháp của việc chiếm hữu, đồng thời làm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang chiếm hữu tài sản.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
