Sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật bị thì xử lý như thế nào?

Sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật bị thì xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?

Xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật

Theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động 2019 quy định, lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.

Theo đó, việc sử dụng lao động chưa thành niên phải tuân thủ theo Bộ luật Lao động 2019 và các quy định có liên quan.

Tại Điều 29 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về việc xử phạt hành chính đối với những hành vi vi phạm quy định về lao động chưa thành niên, cụ thể như sau:

(1) Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng: Đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi riêng hoặc có lập sổ theo dõi riêng nhưng không ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 144 Bộ luật Lao động 2019 khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

(2) Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng: Đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

- Sử dụng lao động chưa thành niên mà chưa có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên đó;

- Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc mà: giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó; bố trí thời giờ làm việc ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi; không có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc; không tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất 01 lần trong 06 tháng hoặc không bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi;

- Sử dụng lao động chưa thành niên làm việc quá thời giờ làm việc quy định tại Điều 146 Bộ luật Lao động 2019;

- Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm;

- Sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm trong những nghề, công việc không được pháp luật cho phép.

(3) Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng: Đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

- Sử dụng người từ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Lao động 2019;

- Sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động 2019 hoặc sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm công việc được pháp luật cho phép mà chưa được sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động 2019 nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đối với những hành vi sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt hành chính từ 1 triệu đồng đến 75 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm, đối với tổ chức vi phạm bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. (Khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP)

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/su-dung-lao-dong-chua-thanh-nien.jpg

Sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật bị thì xử lý như thế nào? (Hình từ Internet)

Sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Trường hợp hành vi sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định pháp luật có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi" theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 98 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

(1) Người nào sử dụng người lao động dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Làm chết người;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

(3) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

- Làm chết 02 người trở lên;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

(4) Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

4 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý