Điều 6 Luật Trẻ em quy định có bao nhiêu nhóm hành vi bị nghiêm cấm?

Điều 6 Luật Trẻ em quy định về các hành vi bị nghiêm cấm có bao nhiêu nhóm hành vi bị nghiêm cấm?

Điều 6 Luật Trẻ em quy định có bao nhiêu nhóm hành vi bị nghiêm cấm?

Căn cứ Điều 6 Luật Trẻ em 2016 quy định có 15 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ trẻ em, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh và toàn diện của trẻ em:

[1] Tước đoạt quyền sống của trẻ em.

[2] Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

[3] Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.

[4] Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.

[5] Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

[6] Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.

[7] Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

[8] Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.

[9] Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.

[10] Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

[11] Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.

[12] Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi.

[13] Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ.

[14] Lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.

[15] Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.

Như vậy, theo quy định tại Điều 6 Luật Trẻ em 2016, có 15 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ toàn diện quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong xã hội.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/BN/dieu-6-luat-tre-em-quy-dinh-co-bao-nhieu-nhom-hanh-vi-bi-nghiem-cam.jpg

Điều 6 Luật Trẻ em quy định có bao nhiêu nhóm hành vi bị nghiêm cấm? (Hình từ Internet)

Theo Luật Trẻ em, bảo vệ trẻ em được quy định như thế nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Trẻ em 2016 quy định bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Theo đó, nội dung bảo vệ trẻ em không chỉ dừng lại ở việc xử lý khi có hành vi xâm hại xảy ra, mà còn bao gồm cả hoạt động mang tính phòng ngừa từ sớm, nhằm giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm.

Trong thực tiễn, bảo vệ trẻ em được thể hiện thông qua nhiều biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho gia đình, nhà trường và xã hội về quyền trẻ em; xây dựng môi trường sống an toàn, không có bạo lực, không có tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến trẻ em; đồng thời thiết lập cơ chế phát hiện, can thiệp và xử lý kịp thời khi trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại.

Ví dụ, khi phát hiện trẻ em có dấu hiệu bị bạo lực gia đình hoặc bị bỏ mặc, cơ quan chức năng và các tổ chức có liên quan phải kịp thời can thiệp, hỗ trợ để bảo đảm an toàn cho trẻ, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý đối với người có hành vi vi phạm.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | huynhlebinhnhi
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý