SCĐ GDKTPL 11 CD bài 7: Biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng là gì?
Nội dung chính
Biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng là gì?
Căn cứ theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Trong quá trình tiến tới giao kết hợp đồng, để bảo đảm các bên thực hiện đúng cam kết và tránh việc từ chối giao kết một cách tùy tiện, pháp luật cho phép áp dụng một số biện pháp bảo đảm.
Như vậy, có thể hiểu biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng là những cách thức do các bên thỏa thuận áp dụng nhằm ràng buộc trách nhiệm trong giai đoạn trước khi hợp đồng được giao kết chính thức. Các biện pháp này giúp bảo đảm rằng các bên sẽ nghiêm túc thực hiện cam kết giao kết, hạn chế việc đơn phương thay đổi ý chí hoặc từ chối giao kết không có lý do chính đáng.

Biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng là gì? (Hình từ Internet)
Theo quy định pháp luật, có biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng nào?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật không quy định riêng một nhóm biện pháp mang tên “biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng”, mà quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong số đó, đặt cọc là biện pháp có chức năng trực tiếp nhằm bảo đảm việc giao kết hợp đồng.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên (bên đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Về bản chất, đặt cọc tạo ra sự ràng buộc trách nhiệm ngay từ giai đoạn thỏa thuận, nhằm hạn chế việc một bên thay đổi ý định hoặc từ chối giao kết hợp đồng sau khi đã thống nhất ban đầu. Khi đó, các bên buộc phải cân nhắc kỹ trước khi tham gia giao kết.
Nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Ngược lại, nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ví dụ, anh A dự định mua một căn nhà của chị B với giá 2 tỷ đồng và hai bên đã thỏa thuận sơ bộ về giá cả và điều kiện chuyển nhượng nhưng chưa ký hợp đồng mua bán chính thức. Để bảo đảm việc giao kết hợp đồng, anh A đồng ý đặt cọc cho chị B số tiền 200 triệu đồng trong thời hạn 30 ngày.
Trong thời gian này, nếu anh A thay đổi ý định và không tiếp tục ký hợp đồng mua bán thì số tiền đặt cọc sẽ thuộc về chị B. Ngược lại, nếu chị B từ chối bán nhà cho anh A thì phải trả lại 200 triệu đồng và thêm một khoản tiền tương đương 200 triệu đồng cho anh A (trừ khi hai bên có thỏa thuận khác).
Như vậy, có thể thấy rằng theo pháp luật hiện hành, đặt cọc là biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng điển hình và phổ biến nhất, vì vừa được luật quy định cụ thể, vừa tạo cơ chế ràng buộc trách nhiệm giữa các bên ngay từ giai đoạn xác lập ý chí giao kết.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
