SBT GDKTPL 12 KNTT bài 9: Trong gia đình, chồng là người quyết định mọi việc là ý kiến đúng hay sai?
Nội dung chính
Trong gia đình, chồng là người quyết định mọi việc là ý kiến đúng hay sai?
Căn cứ theo Điều 36 Hiến pháp 2013 quy định, hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Cùng với đó, căn cứ theo Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng:
Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.
Theo đó, pháp luật quy định vợ và chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt, từ kinh tế, nuôi dạy con cái đến các quyết định quan trọng trong cuộc sống.
Việc cho rằng chồng có quyền quyết định tất cả thường xuất phát từ quan niệm truyền thống trước đây, nhưng hiện nay không còn phù hợp và trái với quy định pháp luật. Nếu trong gia đình chỉ một người có quyền quyết định, dễ dẫn đến mất cân bằng trong mối quan hệ, ảnh hưởng đến quyền lợi và tiếng nói của người còn lại.
Trong thực tế, một gia đình bền vững là khi vợ chồng cùng bàn bạc, chia sẻ và thống nhất với nhau. Điều này không chỉ đúng với quy định pháp luật mà còn giúp giữ gìn sự tôn trọng và hạnh phúc lâu dài.
Tóm lại, ý kiến "Trong gia đình, chồng là người quyết định mọi việc" là ý kiến không đúng, chồng không phải là người quyết định mọi việc trong gia đình, mà vợ chồng phải cùng nhau quyết định trên cơ sở bình đẳng.

SBT GDKTPL 12 KNTT bài 9: Trong gia đình, chồng là người quyết định mọi việc là ý kiến đúng hay sai? (Hình từ Internet)
Pháp luật quy định như thế nào về tình nghĩa vợ chồng trong gia đình?
Căn cứ theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tình nghĩa vợ chồng không chỉ là vấn đề tình cảm mà còn là nghĩa vụ pháp lý được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ.
Cụ thể, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Điều này thể hiện nguyên tắc bình đẳng, gắn bó và cùng nhau xây dựng gia đình bền vững.
Việc “cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” cũng cho thấy trách nhiệm không thuộc riêng một bên mà cần sự hợp tác của cả hai, từ kinh tế đến chăm sóc con cái và đời sống tinh thần.
Ví dụ, trong một gia đình, nếu người chồng đi làm kiếm thu nhập chính thì người vợ có thể đảm nhận nhiều hơn việc chăm sóc con cái; ngược lại, khi người vợ bận rộn công việc, người chồng cũng cần chủ động san sẻ việc nhà. Sự hỗ trợ qua lại này chính là biểu hiện cụ thể của tình nghĩa vợ chồng theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Chẳng hạn, một cặp vợ chồng mà người vợ làm việc tại thành phố, người chồng công tác dài hạn ở nước ngoài thì việc không sống chung không bị coi là vi phạm, miễn là hai bên vẫn giữ sự chung thủy, quan tâm và trách nhiệm với gia đình.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
