Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân có phải vi phạm dân sự không?

Quyền nhân thân là gì? Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân có phải vi phạm dân sự không?

Quyền nhân thân là gì?

Căn cứ theo Điều 25 Bộ luật Dân sự 2015 có định nghĩa quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Có thể hiểu đơn giản, quyền nhân thân là những quyền gắn với danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư và các giá trị tinh thần của mỗi con người. Đây là những quyền thuộc về cá nhân từ khi sinh ra và được pháp luật bảo vệ.

Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân có phải vi phạm dân sự không?

Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân có phải vi phạm dân sự không? (Hình từ Internet)

Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân có phải vi phạm dân sự không?

Hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân là hành vi có thể bị xem là vi phạm dân sự nếu hành vi đó xâm phạm đến các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Đây là những quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quyền nhân thân được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm:

(1) Quyền có họ, tên;

(2) Quyền thay đổi họ;

(3) Quyền thay đổi tên;

(4) Quyền xác định, xác định lại dân tộc;

(5) Quyền được khai sinh, khai tử;

(6) Quyền đối với quốc tịch;

(7) Quyền của cá nhân đối với hình ảnh;

(8) Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể;

(9) Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín;

(10) Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác;

(11) Quyền xác định lại giới tính;

(12) Chuyển đổi giới tính;

(13) Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình;

(14) Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình.

Những quyền này gắn trực tiếp với mỗi con người và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Vì vậy, khi một người có hành vi xâm phạm đến các quyền đó thì có thể phát sinh trách nhiệm dân sự.

Có thể hiểu, hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân là việc làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, hình ảnh, đời sống riêng tư hoặc các giá trị tinh thần khác của cá nhân. Những hành vi này không nhất thiết phải gây thiệt hại về tài sản mà nhiều trường hợp chủ yếu gây tổn thương về tinh thần, danh dự hoặc ảnh hưởng đến cuộc sống của người bị xâm phạm.

Ví dụ:

+ Tự ý đăng tải hình ảnh của người khác lên mạng xã hội khi chưa được đồng ý;

+Bịa đặt, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

+ Tiết lộ bí mật đời tư hoặc thông tin cá nhân của người khác;

+ Mạo danh người khác trên mạng xã hội;

Những hành vi trên đều có thể bị xem là hành vi vi phạm dân sự vì đã xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác.

Ngoài trách nhiệm dân sự, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.

Như vậy, hành vi xâm phạm các quan hệ nhân thân là hành vi vi phạm pháp luật và trong nhiều trường hợp được xem là vi phạm dân sự, bởi hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ. Vì thế, mỗi người cần tôn trọng danh dự, nhân phẩm, hình ảnh, đời sống riêng tư và các quyền nhân thân của người khác để góp phần xây dựng môi trường sống văn minh, an toàn và tôn trọng lẫn nhau.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | trinhkimquocdung
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý