GDKTPL 12 Bài 15: Việt Nam có nghĩa vụ quốc tế gì trong các vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa?
Xuất bản: 12-10-2026Nội dung chính
Việt Nam có nghĩa vụ quốc tế gì trong các vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa?
Trong các vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, bên cạnh việc thực hiện các quyền chủ quyền của mình, Việt Nam còn phải tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Những nghĩa vụ này nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền và lợi ích của Việt Nam với quyền, tự do hợp pháp của các quốc gia khác.
Các nghĩa vụ quốc tế đã được quy định tại các Điều 58, 78 và 79 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 cụ thể như sau
ĐIỀU 58. Các quyền và các nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền về kinh tế
…
3. Trong vùng đặc quyền về kinh tế, khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyền và các nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mực mà các luật và quy định đó không mâu thuẫn với phần này và với các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.
…
ĐIỀU 78. Chế độ pháp lý của vùng nước và vùng trời ở phía trên, và các quyền và các tự do của các quốc gia khác
1. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này.
2. Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các nước khác đã được công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được.
ĐIỀU 79. Các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa
…
2. Trong điều kiện thi hành các biện pháp hợp lý nhằm thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa và ngăn chặn, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do ống dẫn gây ra, quốc gia ven biển không được cản trở việc lắp đặt hay bảo quản các ống dẫn và dây cáp đó.
…
Trước hết, Việt Nam phải tôn trọng quyền và các tự do của các quốc gia khác đã được Công ước thừa nhận. Đặc biệt, trong vùng đặc quyền kinh tế, khi các quốc gia khác thực hiện quyền của mình, Việt Nam có trách nhiệm tôn trọng các quyền đó, đồng thời các quốc gia khác cũng phải tính đến quyền và nghĩa vụ của Việt Nam và tuân thủ các quy định pháp luật của Việt Nam phù hợp với Công ước, theo Điều 58.
Đối với thềm lục địa, Điều 78 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được làm thay đổi chế độ pháp lý của vùng nước và vùng trời phía trên. Đồng thời, Việt Nam không được thực hiện quyền đối với thềm lục địa theo cách gây thiệt hại đến hoạt động hàng hải hoặc các quyền, tự do khác của quốc gia khác, cũng không được cản trở một cách không thể biện minh việc thực hiện các quyền đó.
Bên cạnh đó, theo Điều 79, Việt Nam không được cản trở việc lắp đặt và bảo quản dây cáp, ống dẫn ngầm của các quốc gia khác trên thềm lục địa, với điều kiện vẫn được áp dụng các biện pháp hợp lý để thăm dò, khai thác tài nguyên và phòng ngừa ô nhiễm.
Như vậy, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam chủ yếu là tôn trọng quyền, tự do hợp pháp của quốc gia khác và không cản trở hoạt động hàng hải, hàng không, dây cáp và ống dẫn ngầm, qua đó bảo đảm việc thực hiện quyền chủ quyền phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

GDKTPL 12 Bài 15: Việt Nam có nghĩa vụ quốc tế gì trong các vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa? (Hình từ Internet)
Việc xác định rõ phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có ý nghĩa gì đối với Việt Nam?
Việc xác định rõ phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam về pháp lý, kinh tế và quốc phòng an ninh.
Trước hết, về pháp lý, việc xác định phạm vi giúp làm rõ khu vực Việt Nam được thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là cơ sở để Việt Nam bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời phân định rõ quyền của Việt Nam với quyền và tự do của các quốc gia khác.
Về kinh tế, việc xác định phạm vi tạo cơ sở để Việt Nam thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lí tài nguyên thiên nhiên, góp phần phát triển kinh tế biển và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên.
Về quốc phòng an ninh, việc xác định rõ phạm vi giúp Việt Nam xác định rõ khu vực thực hiện các quyền, lợi ích của mình trên biển, bảo vệ an ninh và lợi ích quốc gia, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của Việt Nam.
Ngoài ra, phạm vi rõ ràng còn góp phần làm rõ phạm vi quyền và lợi ích của Việt Nam, tạo cơ sở giải quyết các vấn đề, tranh chấp trên biển bằng pháp luật quốc tế.
Như vậy, việc xác định rõ phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa là cơ sở quan trọng để Việt Nam bảo vệ quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia, tài nguyên biển và an ninh trên biển.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
