GDKTPL 11 KNTT bài 10: Ví dụ trong thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay?
Nội dung chính
Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được pháp luật quy định thế nào?
Căn cứ theo Điều 11 Luật Bình đẳng giới 2006 có quy định về việc bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như sau:
(1) Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.
(2) Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.
(3) Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
(4) Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.
(5) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:
- Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;
- Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Ví dụ trong thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay? (Hình từ Internet)
Ví dụ trong thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay?
Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được hiểu là việc nam và nữ được tạo điều kiện, cơ hội như nhau trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động chính trị, ứng cử, bầu cử và đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo theo năng lực, trình độ của mình, không bị phân biệt đối xử vì giới tính.
Dưới đây là những ví dụ trong thực tiễn về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở nước ta hiện nay, cụ thể:
Ví dụ 1: Tại địa phương K, chị A là giáo viên trung học phổ thông, đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đã tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Trong quá trình bầu cử, chị A được đưa vào danh sách ứng cử viên sau khi hiệp thương và cuối cùng trúng cử.
Ví dụ 2: Anh B và chị C đều là cán bộ trong một cơ quan nhà nước cấp tỉnh. Khi xem xét bổ nhiệm vị trí trưởng phòng, cả hai đều được đánh giá dựa trên năng lực, trình độ và kinh nghiệm, không phân biệt giới tính. Cuối cùng, chị C được bổ nhiệm vì đáp ứng tốt hơn yêu cầu.
Ví dụ 3: Trong một kỳ bầu cử Quốc hội, chị D được cơ quan giới thiệu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội. Chị tham gia đầy đủ các hoạt động tiếp xúc cử tri và được cử tri tín nhiệm bầu chọn.
Ví dụ 4: Tại tỉnh M, chị E là cán bộ công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND huyện sau quá trình đánh giá về năng lực, trình độ và kinh nghiệm công tác, không phân biệt nam hay nữ.
Ví dụ 5: Trong quá trình giới thiệu nhân sự tham gia cấp ủy địa phương, cả nam và nữ đủ điều kiện đều được xem xét, đề cử và đánh giá công bằng dựa trên năng lực, phẩm chất và uy tín.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
