Con đã thành niên (trên 18 tuổi) có phải nuôi dưỡng lại cha mẹ không?

Quy định về nghĩa vụ của con đã thành niên (trên 18 tuổi): có phải nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho cha mẹ hay không?

Con đã thành niên (trên 18 tuổi) có phải nuôi dưỡng lại cha mẹ không?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của con cái đối với cha mẹ:

Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
...
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Theo như quy định trên, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu hoặc khuyết tật là nghĩa vụ pháp lý, đồng thời cũng là trách nhiệm đạo đức của mỗi người con.

Nếu gia đình có nhiều con, tất cả các con đều phải có nghĩa vụ pháp lý ngang nhau trong việc cùng gánh vác, san sẻ việc nuôi dưỡng này.

Ngoài ra, khi con đã thành niên không sống chung với cha mẹ thì nghĩa vụ nuôi dưỡng có thể được thực hiện thông qua cấp dưỡng. Cụ thể, theo Điều 111 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ trong trường hợp cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Cần lưu ý rằng, nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ gắn liền với nhân thân, do đó không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Con đã thành niên (trên 18 tuổi) có phải nuôi dưỡng lại cha mẹ không?

Con đã thành niên (trên 18 tuổi) có phải nuôi dưỡng lại cha mẹ không? (Hình từ Internet)

Con cái vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ thì có được hưởng thừa kế không?

Căn cứ Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp không được quyền hưởng di sản của người để lại di sản:

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Tuy nhiên, những người nêu trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Theo quy định trên, nếu con cái có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ thì thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản thừa kế.

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định ngoại lệ: người thuộc trường hợp không được hưởng di sản vẫn có thể được hưởng nếu người để lại di sản đã biết rõ hành vi vi phạm nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, con cái vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ có thể không được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, nếu cha mẹ vẫn lập di chúc cho hưởng di sản dù đã biết rõ hành vi vi phạm, thì người con vẫn được nhận thừa kế theo di chúc.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | trinhkimquocdung
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý