Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải được thể hiện như thế nào?
Nội dung chính
Nội thủy, lãnh hải là gì? Chế độ pháp lý của nội thủy, lãnh hải?
Tại Điều 9, 10 Luật Biển Việt Nam 2012 quy định về nội thủy và chế độ pháp lý của nội thuỷ như sau:
- Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
- Chế độ pháp lý của nội thuỷ: Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền.
Chủ quyền này bao trùm cả vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bên dưới vùng nước nội thuỷ.
Tại Điều 11, 12 Luật Biển Việt Nam 2012 quy định về lãnh hải và chế độ pháp lý của lãnh hải
- Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.
- Chế độ pháp lý của lãnh hải:
+ Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
+ Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải thực hiện nghĩa vụ thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
+ Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
+ Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
+ Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam.
Tóm lại, nội thủy và lãnh hải đều là các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia. Trong đó, nội thủy là bộ phận lãnh thổ quốc gia và chịu chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền, nên Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với vùng nước này cũng như vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Đối với lãnh hải, quốc gia cũng thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với vùng nước, vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; tuy nhiên, việc thực hiện chủ quyền phải phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài.

Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải được thể hiện như thế nào? (Hình từ Internet)
Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải được thể hiện như thế nào?
Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với các vùng biển thuộc lãnh thổ quốc gia được thể hiện khác nhau tùy theo từng khu vực biển. Đối với vùng nội thuỷ và vùng lãnh hải, quốc gia ven biển đều có quyền thực hiện chủ quyền của mình, tuy nhiên mức độ và cách thức thực hiện có những điểm khác biệt nhất định theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
- Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng nội thuỷ thể hiện:
+ Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với vùng nội thủy, tương tự như đối với lãnh thổ đất liền.
+ Chủ quyền này bao trùm vùng nước nội thủy, vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của khu vực này.
+ Tàu thuyền và phương tiện bay của nước ngoài muốn ra vào hoặc bay qua vùng nội thủy đều phải xin phép và chỉ được hoạt động khi được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven biển cho phép.
- Chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng lãnh hải được thể hiện:
+ Quốc gia ven biển có chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với vùng nước lãnh hải, vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
+ Chủ quyền trong lãnh hải là đầy đủ và toàn vẹn, tuy nhiên phải tôn trọng quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài theo quy định của luật quốc tế.
+ Quốc gia ven biển có quyền quản lý, khai thác tài nguyên sinh vật biển, đồng thời có chủ quyền đối với các hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải.
+ Phương tiện bay nước ngoài muốn hoạt động trong vùng trời trên lãnh hải phải được sự cho phép của quốc gia ven biển.
Như vậy, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nội thuỷ và lãnh hải đều thể hiện quyền quản lý và kiểm soát đối với các vùng biển thuộc lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, trong khi nội thuỷ thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia thì lãnh hải vẫn phải bảo đảm một số quyền tự do nhất định cho các quốc gia khác theo quy định của pháp luật quốc tế.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
