Cha mẹ không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì khai báo thông tin cư trú cho con chưa thành niên như thế nào?
Nội dung chính
Cha mẹ không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì khai báo thông tin cư trú cho con chưa thành niên như thế nào?
Căn cứ tại khoản 3 Điều 7 Nghị định 154/2024/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 4 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026) quy định về đăng ký cư trú cho người chưa thành niên như sau:
Điều 7. Đăng ký cư trú cho người chưa thành niên
…
3. Trường hợp cha, mẹ của người chưa thành niên không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên theo quy định tại Điều 4 Nghị định này.
…
Dẫn chiếu đến Điều 4 Nghị định 154/2024/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 10 Điều 4 Nghị định 58/2026/NĐ-CP), trường hợp cha mẹ không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về cư trú cho con chưa thành niên như sau:
- Công dân không có nơi thường trú, nơi tạm trú khai báo thông tin về cư trú theo mẫu Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và nộp trực tiếp hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại theo quy định tại Điều 19 Luật Cư trú 2020.
Trường hợp chưa có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, chính xác trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú thì cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại của công dân có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, hồ sơ của công dân, kiểm tra, xác minh và thực hiện thu thập, cập nhật thông tin công dân theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp qua kiểm tra, rà soát, cơ quan đăng ký cư trú phát hiện công dân thuộc trường hợp phải khai báo thông tin về cư trú thì có trách nhiệm hướng dẫn và yêu cầu công dân đó thực hiện việc khai báo. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cơ quan đăng ký cư trú yêu cầu công dân khai báo thông tin về cư trú thì công dân có trách nhiệm thực hiện khai báo theo quy định.
- Trường hợp qua kiểm tra, xác minh xác định thông tin về cư trú do công dân đã khai báo, cung cấp nhưng chưa đầy đủ, chính xác hoặc không kiểm tra, xác minh được thông tin về công dân thì cơ quan đăng ký cư trú có văn bản giấy hoặc văn bản điện tử từ chối tiếp nhận khai báo thông tin về cư trú và đề nghị công dân đó khai báo lại để kiểm tra, xác minh theo quy định (trừ trường hợp thông tin khai báo lại đúng với kết quả đã xác minh trước đó). Thời hạn kiểm tra, xác minh lại được tính như thời hạn kiểm tra, xác minh lần đầu.
Qua kiểm tra, xác minh nếu có căn cứ xác định người đến khai báo là công dân Việt Nam và thông tin mà công dân đó khai báo đầy đủ, chính xác thì cơ quan đăng ký cư trú tiến hành thu thập, cập nhật thông tin công dân đó vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đề nghị cơ quan quản lý căn cước Bộ Công an xác lập số định danh cá nhân của công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật. Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cấp giấy xác nhận thông tin về cư trú khi công dân có nhu cầu.
Như vậy, nếu cha mẹ không có cả nơi thường trú và nơi tạm trú thì vẫn có thể thực hiện khai báo thông tin cư trú cho con chưa thành niên tại nơi ở hiện tại thông qua thủ tục khai báo thông tin về cư trú theo quy định của pháp luật.

Cha mẹ không có cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì khai báo thông tin cư trú cho con chưa thành niên như thế nào? (Hình từ Internet)
Nơi cư trú của con chưa thành niên được quy định như thế nào?
Theo Điều 12 Luật Cư trú 2020 (sửa đổi bởi khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025) quy định về nơi cư trú của con chưa thành niên như sau:
- Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống; trường hợp không xác định được nơi thường xuyên chung sống thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.
- Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
