Việc xác lập quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên cần ai đồng ý?
Nội dung chính
Việc xác lập quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên cần ai đồng ý?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:
Quyền nhân thân
1. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
2. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Theo đó, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Điều này có nghĩa là, người chưa thành niên không được tự mình quyết định các giao dịch hoặc quan hệ dân sự liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của mình (như quyền có họ tên, quyền được khai sinh, khai tử…), mà cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên thường là cha, mẹ hoặc người giám hộ theo quy định của pháp luật.

Việc xác lập quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên cần ai đồng ý? (Hình từ Internet)
Quyền nhân thân có được pháp luật bảo hộ không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Theo quy định này, pháp luật dân sự xác định rõ nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự. Mọi cá nhân và pháp nhân, không phân biệt địa vị, giới tính, dân tộc hay điều kiện xã hội, đều được Nhà nước bảo hộ như nhau đối với các quyền nhân thân và quyền tài sản.
Điều đó có nghĩa là quyền nhân thân, vốn là những quyền gắn liền với mỗi cá nhân đều được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Không ai được xâm phạm hoặc hạn chế trái pháp luật các quyền này của người khác, và nếu có hành vi xâm phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
