Thế nào là trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp?
Nội dung chính
Thế nào là trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 31 Nghị định 56/2017/NĐ-CP, trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp là trẻ em đang bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em chính là người gây tổn hại cho trẻ em.
Đây là những trường hợp trẻ em rơi vào tình trạng nguy hiểm, có thể bị ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn, thậm chí là tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời. Ví dụ, trẻ em bị bạo lực, ngược đãi, bỏ rơi hoặc sống trong môi trường không an toàn.
Do tính chất cấp bách của tình huống, việc can thiệp phải được thực hiện nhanh chóng để kịp thời bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ bị xâm hại hoặc tổn thương nghiêm trọng.
Như vậy, trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp là những trường hợp trẻ đang gặp nguy hiểm nghiêm trọng và cần được can thiệp ngay nhằm bảo đảm an toàn và quyền lợi của trẻ.

Thế nào là trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp? (Hình từ Internet)
Trong trường hợp trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp, thời gian can thiệp tối đa là bao lâu?
Căn cứ khoản 2 Điều 31 Nghị định 56/2017/NĐ-CP, việc can thiệp trong trường hợp trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp phải được thực hiện trong thời gian nhanh nhất có thể và không quá 12 giờ từ khi nhận được thông tin.
Để bảo đảm việc can thiệp được thực hiện kịp thời trong thời hạn nêu trên, pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp bảo vệ trẻ em.
(1) Trách nhiệm của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã:
- Tiếp nhận thông tin, kết nối với cơ quan công an để ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em xảy ra trên địa bàn xã; phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp và lưu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến tổn hại của trẻ em do bị xâm hại để hỗ trợ việc điều tra, xử lý, bảo vệ trẻ em;
- Tiếp tục đánh giá mức độ tổn hại và mức độ an toàn môi trường sống của trẻ em, xây dựng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt và triển khai thực hiện;
- Trong trường hợp cần thiết phối hợp với Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em để được hướng dẫn, hỗ trợ việc can thiệp khẩn cấp và xây dựng, thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp.
(2) Trách nhiệm của cơ quan công an:
- Tiếp nhận thông tin, triển khai việc ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em;
- Phối hợp với người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã nơi xảy ra vụ việc để thực hiện việc bảo vệ trẻ em khẩn cấp, bảo đảm sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em;
- Trong trường hợp cần thiết, phối hợp với Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em để hỗ trợ việc can thiệp khẩn cấp.
(3) Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh chữa bệnh:
- Khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em bị xâm hại và trẻ em được áp dụng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật trẻ em 2016;
- Hướng dẫn việc thu thập bằng chứng, lưu giữ chứng cứ tổn hại của trẻ em do bị xâm hại phục vụ việc giám định theo hướng dẫn của Bộ Y tế;
- Lưu trữ hồ sơ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
