SCĐ GDKTPL 10 CD bài 6: Doanh nghiệp nhỏ rất năng động nhưng cũng rất dễ bị tổn thương, phá sản đúng không?
Nội dung chính
Doanh nghiệp nhỏ rất năng động nhưng cũng rất dễ bị tổn thương, phá sản đúng không?
Trước hết, doanh nghiệp nhỏ thường rất năng động và linh hoạt. Vì quy mô không lớn, bộ máy quản lý gọn nhẹ nên họ dễ thay đổi hướng kinh doanh, sản phẩm hoặc cách bán hàng khi thị trường thay đổi. Ví dụ, một quán ăn nhỏ có thể nhanh chóng đổi món, điều chỉnh giá hoặc chạy khuyến mãi để thu hút khách mà không cần quy trình phức tạp như doanh nghiệp lớn.
Tuy nhiên, bên cạnh sự linh hoạt đó, doanh nghiệp nhỏ cũng dễ gặp rủi ro hơn trong hoạt động kinh doanh. Do nguồn vốn hạn chế, nếu thị trường biến động, doanh thu giảm hoặc gặp khó khăn về mặt tài chính, doanh nghiệp nhỏ thường không có nguồn dự phòng đủ lớn để duy trì hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, chỉ cần một biến cố như nền kinh tế suy thoái hoặc giá nguyên liệu tăng hoặc dịch bệnh, doanh nghiệp nhỏ có thể rơi vào tình trạng thua lỗ.
Ngoài ra, doanh nghiệp nhỏ cũng thường hạn chế về công nghệ, nhân sự và khả năng cạnh tranh, nên trong môi trường cạnh tranh gay gắt, họ dễ bị mất thị phần nếu không kịp đổi mới.
Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp nhỏ vừa có ưu điểm là linh hoạt, dễ thích nghi, vừa có nhược điểm là nguồn lực hạn chế nên dễ bị tác động bởi rủi ro thị trường. Vì vậy, nhận định trên là đúng, nhưng cần hiểu đúng bản chất là mức độ rủi ro cao hơn chứ không phải chắc chắn sẽ phá sản.

Doanh nghiệp nhỏ rất năng động nhưng cũng rất dễ bị tổn thương, phá sản đúng không? (Hình từ Internet)
Dựa vào tiêu chí nào để xác định doanh nghiệp nhỏ?
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP quy định về tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ như sau:
[1] Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP.
[2] Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP.
Doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP được xác định với quy mô thấp hơn, cụ thể:
+ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
+ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
