SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 86: Quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình là không bị hạn chế phải không?

Quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình là không bị hạn chế phải không? Điều kiện thực hiện quyền định đoạt tài sản như thế nào?

Quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình là không bị hạn chế phải không?

Căn cứ tại Điều 194 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền định đoạt của chủ sở hữu như sau:

Điều 194. Quyền định đoạt của chủ sở hữu
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.

Đồng thời tại Điều 196 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định:

Điều 196. Hạn chế quyền định đoạt
1. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định.
2. Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.
Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.

Theo đó, chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản của mình thông qua nhiều hình thức như: bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các cách thức khác theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, quyền này không phải là tuyệt đối. Pháp luật đã quy định rõ về các trường hợp hạn chế quyền định đoạt. Cụ thể:

- Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong những trường hợp do luật quy định, nghĩa là chủ sở hữu vẫn có quyền rộng rãi, nhưng phải chịu sự điều chỉnh khi pháp luật có quy định cụ thể.

- Đối với tài sản là di tích lịch sử - văn hóa, khi được đem bán thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua nhằm bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử.

- Trong một số trường hợp, pháp luật quy định cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.

Như vậy, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản không phải là tuyệt đối mà có thể bị hạn chế trong những trường hợp luật định, nhằm bảo đảm lợi ích chung của xã hội và quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/quyen-dinh-doat-cua-chu-so-huu.png

SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 86: Quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình là không bị hạn chế phải không? (Hình từ Internet)

Việc định đoạt tài sản phải đáp ứng điều kiện như thế nào?

Căn cứ tại Điều 193 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện thực hiện quyền định đoạt tài sản như sau:

(i) Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật.

Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ những người có năng lực hành vi đầy đủ mới được tự mình định đoạt tài sản.

+ Người thành niên (từ đủ mười tám tuổi trở lên) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 Bộ luật Dân sự 2015.

+ Người chưa thành niên (chưa đủ mười tám tuổi) có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ.

(ii) Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

3 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý