SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 86: Có phải chỉ chủ sở hữu mới có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản?
Nội dung chính
Có phải chỉ chủ sở hữu mới có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản?
Tại Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Về nguyên tắc, chỉ chủ sở hữu mới có đầy đủ cả ba quyền này một cách trọn vẹn và độc lập.
Tuy nhiên, người không phải là chủ sở hữu vẫn có thể được thực hiện một hoặc một số quyền nhất định đối với tài sản. Ví dụ, người thuê tài sản có quyền sử dụng; người giữ hộ có quyền chiếm hữu; người được ủy quyền có thể có quyền định đoạt trong phạm vi được giao.
Như vậy, chỉ chủ sở hữu mới có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản; các chủ thể khác chỉ có thể thực hiện một hoặc một số quyền nhất định theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận.

SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 86: Có phải chỉ chủ sở hữu mới có đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như thế nào?
Theo quy định tại Điều 160 Bộ luật Dân sự 2015 thì nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như sau:
- Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan quy định.
Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan quy định khác.
- Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.
Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là khi nào?
Tại Điều 161 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như sau:
- Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.
Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản.
- Trường hợp tài sản chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
