SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 82: Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản là quyền gì?
Nội dung chính
Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản là quyền gì?
Tại Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chiếm hữu như sau:
Điều 179. Khái niệm chiếm hữu
1. Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này.
Từ khái niệm này có thể thấy, dấu hiệu đặc trưng của chiếm hữu là:
+ Chủ thể thực tế nắm giữ tài sản;
+ Có khả năng nắm giữ, chi phối tài sản như người có quyền, dù có thể là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu;
+ Việc chiếm hữu có thể diễn ra trực tiếp (tự mình giữ) hoặc gián tiếp (thông qua người khác).
Như vậy, khi một chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản chính là đang thực hiện quyền chiếm hữu.

SBT Kinh tế Pháp luật 12 CTST trang 82: Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản là quyền gì? (Hình từ Internet)
Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản như thế nào?
Tại Điều 187 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản như sau:
- Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định.
- Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, người được ủy quyền quản lý tài sản chỉ có quyền chiếm hữu mang tính phụ thuộc, được thực hiện trong phạm vi, thời hạn và cách thức do chủ sở hữu xác định, đồng thời không làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản.
Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự ra sao?
Theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự như sau:
- Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch.
- Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý.
- Người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự có quyền chiếm hữu và thực hiện các quyền liên quan đối với tài sản phù hợp với nội dung, mục đích của giao dịch đã thỏa thuận với chủ sở hữu. Việc chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản cho người khác chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của chủ sở hữu và không làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
