SBT GDKTPL 11 CD bài 3: Sở thích của người lao động có thuộc nội dung của hợp đồng lao động không? Vì sao?

Sở thích của người lao động có thuộc nội dung của hợp đồng lao động không? Vì sao? Khi ký kết hợp đồng lao động cần được lập thành mấy bản?

Sở thích của người lao động có thuộc nội dung của hợp đồng lao động không? Vì sao?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019 có quy định hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:

- Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động;

- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động;

- Công việc và địa điểm làm việc;

- Thời hạn của hợp đồng lao động;

- Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

- Chế độ nâng bậc, nâng lương;

- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

- Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp;

- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.

Dựa vào quy định trên, có thể thấy, hợp đồng lao động chỉ bao gồm các nội dung chủ yếu liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động như: công việc, tiền lương, thời hạn hợp đồng, thời giờ làm việc, quyền và nghĩa vụ của các bên…

Trong khi đó, sở thích của người lao động là yếu tố mang tính cá nhân, không liên quan đến việc thực hiện công việc cũng như quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động.

Do đó, sở thích của người lao động không phải là nội dung của hợp đồng lao động và không được pháp luật quy định là nội dung bắt buộc phải có.

Sở thích của người lao động có thuộc nội dung của hợp đồng lao động không? Vì sao?

Sở thích của người lao động có thuộc nội dung của hợp đồng lao động không? Vì sao? (Hình từ Internet)

Khi ký kết hợp đồng lao động cần được lập thành mấy bản?

Căn cứ theo Điều 14 Bộ luật Lao động 2019 có quy định:

Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.

Theo đó, hợp đồng lao động khi giao kết bằng văn bản phải được lập thành 02 bản, trong đó người lao động giữ 01 bản và người sử dụng lao động giữ 01 bản. Việc mỗi bên lưu giữ một bản hợp đồng là cần thiết nhằm làm căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện công việc, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên khi phát sinh tranh chấp.

Bên cạnh đó, đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng, thì hai bên có thể giao kết bằng lời nói (trừ một số trường hợp đặc biệt khác theo quy định). Hợp đồng lao động giao kết bằng phương tiện điện tử cũng có giá trị như hợp đồng bằng văn bản.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

2 | trinhkimquocdung
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý