Sách bài tập Kinh tế Pháp luật 12: Quyền định đoạt tài sản cho phép công dân có quyền gì?
Xuất bản: 08-08-2026Nội dung chính
Quyền định đoạt tài sản cho phép công dân có quyền gì?
Căn cứ theo Điều 192 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản." Đây là một trong ba quyền cơ bản của quyền sở hữu, bên cạnh quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản.
Căn cứ theo Điều 194 Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Như vậy, quyền định đoạt cho phép chủ sở hữu quyết định số phận pháp lý của tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, như bán, tặng cho, trao đổi, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, một người sở hữu chiếc xe máy có thể bán chiếc xe đó cho người khác, tặng cho người thân hoặc tự quyết định tiêu hủy nếu chiếc xe không còn giá trị sử dụng. Tương tự, chủ sở hữu một căn nhà có thể chuyển nhượng, tặng cho hoặc để thừa kế căn nhà theo quy định của pháp luật về dân sự và đất đai.

Sách bài tập Kinh tế Pháp luật 12: Quyền định đoạt tài sản cho phép công dân có quyền gì? (Hình từ Internet)
Điều kiện để thực hiện quyền định đoạt tài sản theo Bộ luật Dân sự 2015 là gì?
Quyền định đoạt tài sản không phải được thực hiện trong mọi trường hợp mà phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Cụ thể, theo Điều 193 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện để thực hiện quyền định đoạt tài sản như sau:
[1] Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật.
[2] Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.
Về năng lực hành vi dân sự, Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp người này bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự.
Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm người thực hiện việc định đoạt có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình khi xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản.
Bên cạnh đó, việc định đoạt tài sản không trái quy định của pháp luật. Đối với một số loại tài sản hoặc một số giao dịch nhất định, pháp luật yêu cầu phải tuân thủ trình tự, thủ tục riêng. Chẳng hạn, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật về đất đai và thực hiện việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định.
Ví dụ, anh A là chủ sở hữu một căn nhà và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên có quyền bán căn nhà cho người khác. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng chỉ được pháp luật công nhận khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện và thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Điều 196 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định. Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật Di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua. Đồng thời, nếu cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
