Pháp luật quy định như thế nào về cách tính tuổi kết hôn?
Nội dung chính
Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về độ tuổi kết hôn như thế nào? Cách tính tuổi kết hôn ra sao?
Theo điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về độ tuổi kết hôn hợp pháp tại Việt Nam như sau: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
Cách tính tuổi kết hôn được hướng dẫn chi tiết tại khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, cụ thể:
(i) “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.
(ii) Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
- Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
- Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.
Quy định này nhằm đảm bảo có căn cứ pháp lý thống nhất để xác định độ tuổi kết hôn trong các trường hợp thiếu thông tin về ngày sinh trên giấy tờ.
Ví dụ: Chị B sinh ngày 10/01/1997, đến ngày 08/01/2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10/01/2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có hiệu lực (ngày 01/01/2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Từ đó có thể thấy, việc xác định đúng thời điểm “đủ tuổi” không chỉ phụ thuộc vào năm sinh mà phải căn cứ chính xác đến từng ngày, tháng. Nếu đăng ký kết hôn sớm hơn dù chỉ vài ngày cũng có thể dẫn đến việc vi phạm pháp luật và không được công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Pháp luật quy định như thế nào về cách tính tuổi kết hôn? (Hình từ Internet)
Chưa đủ tuổi kết hôn mà vẫn tiến hành kết hôn bị phạt bao nhiêu?
Căn cứ khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định (nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên).
Như vậy, nếu chưa đủ tuổi kết hôn mà vẫn tiến hành kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng thì được xem là hành vi tảo hôn và có thể bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
Cụ thể, Điều 58 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn như sau:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Có thể thấy, pháp luật không chỉ xử lý người trực tiếp vi phạm mà còn xử phạt cả những cá nhân, tổ chức có hành vi tiếp tay hoặc duy trì tình trạng tảo hôn. Do đó, việc tuân thủ đúng quy định về tuổi kết hôn là cần thiết để tránh các hậu quả pháp lý không đáng có.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
