Người bị tâm thần phạm tội có đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự không?
Nội dung chính
Người bị tâm thần phạm tội có đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự không?
Căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là "Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự".
Cụ thể, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người bị tâm thần phạm tội đều đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự.
Để xác định chính xác một người bị tâm thần hay không, cơ quan tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần khi cần xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ (theo khoản 1 Điều 205 và khoản 1 Điều 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).
Kết luận giám định pháp y tâm thần là căn cứ bắt buộc để xác định xem người bị tâm thần phạm tội có được loại trừ trách nhiệm hình sự hay không.
Nếu kết luận giám định xác nhận người đó bị tâm thần trong lúc phạm tội, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh (theo khoản 1 Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025).
Tóm lại, người bị tâm thần phạm tội không đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự. Việc loại trừ trách nhiệm chỉ áp dụng khi kết luận giám định xác nhận họ mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình tại thời điểm phạm tội.

Người bị tâm thần phạm tội có đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự không? (Hình từ Internet)
Trường hợp nào người bị tâm thần phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự?
Không phải trong mọi trường hợp người bị tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hình sự như: Nếu người đó phạm tội trong trạng thái hoàn toàn bình thường mà trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì có thể vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, theo khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025) quy định: "Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự."
Trường hợp này cho thấy sự cân bằng giữa việc xử lý các hành vi nguy hiểm cho xã hội và bảo vệ quyền lợi, sức khỏe của người bị tâm thần, đảm bảo vừa duy trì tính răn đe và công bằng trong pháp luật, vừa tạo điều kiện cho người bệnh được chăm sóc, chữa trị hợp pháp.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
