Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra?

Con chưa thành niên gây ra thiệt hại cho người khác, cha mẹ có phải bồi thường thiệt hại không?

Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra?

Căn cứ Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra của cha mẹ:

Điều 74. Bồi thường thiệt hại do con gây ra
Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

Cùng với đó, Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên:

- Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015.

- Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Như vậy, cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự. Mức độ trách nhiệm của cha mẹ phụ thuộc vào độ tuổi của người con và khả năng bồi thường bằng tài sản của chính người con.

Đối với con chưa đủ 15 tuổi, cha mẹ là người có trách nhiệm bồi thường chính đối với thiệt hại do con gây ra. Đối với con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, người con phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu tài sản của con không đủ để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu.

Việc pháp luật quy định trách nhiệm này nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại và tăng cường trách nhiệm quản lý, giáo dục con cái của cha mẹ.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/BN/khi-nao-cha-me-phai-boi-thuong-thiet-hai-do-con-chua-thanh-nien-gay-ra.jpg

Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra? (Hình từ Internet)

Có được giảm mức bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp không?

Căn cứ Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Như vậy, không phải mọi trường hợp gây thiệt hại đều được giảm mức bồi thường. Việc giảm mức bồi thường chỉ được xem xét nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

+ Không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý trong việc gây thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường.

Do đó, pháp luật hiện hành cho phép giảm mức bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Tuy nhiên, việc giảm mức bồi thường phải căn cứ vào tính chất lỗi và khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường, không phải đương nhiên được áp dụng trong mọi trường hợp.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

4 | huynhlebinhnhi
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý