Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ thể hiện ở quyền tự do nào?

Xuất bản: 15-08-2026
Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ thể hiện ở quyền tự do nào?

Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ thể hiện ở quyền tự do nào?

Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ không chỉ thể hiện ở việc nam, nữ tự nguyện quyết định kết hôn mà còn thể hiện ở quyền tự do ly hôn.

Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thể hiện sự tự nguyện và tiến bộ trong hôn nhân, bởi pháp luật không buộc vợ, chồng phải duy trì quan hệ hôn nhân khi đời sống chung không thể tiếp tục. Tuy nhiên, việc ly hôn phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục và các căn cứ do pháp luật quy định, không phải việc một bên tự ý tuyên bố chấm dứt quan hệ hôn nhân là làm phát sinh hiệu lực ly hôn.

Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp chỉ một bên yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Như vậy, quyền tự do ly hôn là một trong những biểu hiện của hôn nhân tự nguyện và tiến bộ. Pháp luật bảo đảm quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, đồng thời quy định căn cứ và thủ tục giải quyết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và con cái.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/BN/hon-nhan-tu-nguyen-va-tien-bo-the-hien-o-quyen-tu-do-nao.jpg

Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ thể hiện ở quyền tự do nào? (Hình từ Internet)

Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ gì trong quan hệ hôn nhân?

Trong quan hệ hôn nhân, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, đồng thời phải tôn trọng, quan tâm và tạo điều kiện cho nhau trong đời sống gia đình cũng như trong việc thực hiện các quyền của công dân.

Căn cứ Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Như vậy, quan hệ vợ chồng được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, không bên nào có quyền áp đặt hoặc hạn chế các quyền hợp pháp của bên kia chỉ vì lý do là vợ hoặc chồng.

Bên cạnh nguyên tắc bình đẳng, pháp luật còn quy định cụ thể về tình nghĩa vợ chồng. Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng cũng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Trong đời sống gia đình, việc lựa chọn nơi cư trú cũng thuộc quyền thỏa thuận của vợ, chồng. Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính. Quy định này thể hiện sự bình đẳng và tôn trọng ý chí của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân.

Vợ, chồng cũng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau theo Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Đồng thời, Điều 22 quy định vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau. Theo đó, việc xác lập quan hệ vợ chồng không làm mất đi các quyền nhân thân cơ bản của mỗi người.

Ngoài ra, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau trong việc lựa chọn nghề nghiệp, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ và tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Như vậy, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng thực hiện trách nhiệm đối với gia đình. Pháp luật không đặt ra sự phân biệt về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng mà bảo đảm mỗi bên có quyền tự quyết đối với những vấn đề thuộc về nhân thân, đồng thời có trách nhiệm thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và tôn trọng nhau trong đời sống gia đình.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

10 | huynhlebinhnhi
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý