Hôn nhân tiến bộ là gì? Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân dựa trên cơ sở nào?
Xuất bản: 19-08-2026Nội dung chính
Hôn nhân tiến bộ là gì? Ví dụ về hôn nhân tiến bộ?
Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nam, nữ yêu nhau, có mong muốn kết hôn thì thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi quan hệ hôn nhân được đăng ký theo quy định, Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân.
Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chế độ hôn nhân và gia đình được xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Đồng thời, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý.
Như vậy, hôn nhân tiến bộ không chỉ thể hiện ở việc nam, nữ có tình cảm và tự nguyện kết hôn mà còn phải được xác lập theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký kết hôn là cơ sở để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng.
Ví dụ: Anh A và chị B tự nguyện quyết định kết hôn sau một thời gian tìm hiểu. Hai người đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật và đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Sau khi được đăng ký, quan hệ vợ chồng của anh A và chị B được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nếu trong quá trình chung sống phát sinh vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng thì các bên có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật.

Hôn nhân tiến bộ là gì? Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân dựa trên cơ sở nào? (Hình từ Internet)
Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân dựa trên cơ sở nào?
Hôn nhân tiến bộ được xây dựng trên cơ sở sự tự nguyện của nam, nữ; nguyên tắc một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng; đồng thời được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Thứ nhất, hôn nhân tiến bộ dựa trên sự tự nguyện của nam, nữ. Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc kết hôn phải do nam và nữ tự nguyện quyết định. Điều này bảo đảm mỗi người có quyền tự mình quyết định việc kết hôn, không bị ép buộc hoặc tác động trái với ý chí của mình. Vì vậy, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn hoặc cản trở kết hôn đều là những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Thứ hai, hôn nhân tiến bộ dựa trên nguyên tắc một vợ, một chồng và vợ chồng bình đẳng. Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định một vợ, một chồng và vợ chồng bình đẳng là những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình.
Đồng thời, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 tiếp tục quy định vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các luật khác có liên quan. Điều này bảo đảm quan hệ hôn nhân không dựa trên sự áp đặt hoặc bất bình đẳng giữa các bên.
Thứ ba, hôn nhân tiến bộ được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc đăng ký kết hôn là cơ sở để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Khi quan hệ hôn nhân phát sinh tranh chấp hoặc cần giải quyết theo quy định pháp luật, vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Bên cạnh đó, hôn nhân tự nguyện và tiến bộ còn bảo đảm quyền được ly hôn. Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
