Hành vi bạo hành trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gì? Mức phạt như thế nào?

Hành vi bạo hành trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gì, mức phạt ra sao? Biểu hiện của hành vi bạo hành trẻ em như thế nào?

Hành vi bạo hành trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gì? Mức phạt như thế nào?

Bạo hành trẻ em hay còn gọi là bạo lực trẻ em là những hành vi gây tổn hại đến thân thể, tinh thần và sự phát triển của trẻ. Những hành vi này có thể bao gồm việc hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc xâm hại đến thân thể và sức khỏe của trẻ em. Ngoài ra, bạo hành trẻ em còn thể hiện qua việc lăng mạ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm, khiến trẻ bị tổn thương về mặt tinh thần.

Bên cạnh đó, các hành vi như cô lập, xua đuổi, bỏ mặc hoặc cố ý gây áp lực, đe dọa trẻ em cũng được xem là những biểu hiện của bạo hành. Những hành vi này có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển cả về thể chất lẫn tâm lý của trẻ.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Trẻ em 2016 thì bạo lực trẻ em là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Theo đó, người nào có hành vi bạo lực trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 sau đây:

(1) Tội hành hạ người khác (Điều 140 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bởi điểm e khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017)

- Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;

+ Đối với 02 người trở lên.

(2) Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác (Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, điểm b khoản 1 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024)

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
...
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

(2) Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015)

- Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

+ Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Như vậy, bạo hành trẻ em là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác với nhiều mức phạt nghiêm khắc tùy theo mức độ vi phạm.

Vì thế, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức tôn trọng và bảo vệ quyền của trẻ em, đồng thời kịp thời lên án và ngăn chặn những hành vi bạo lực đối với trẻ. Chỉ khi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, được yêu thương và tôn trọng thì các em mới có thể phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/gdcd-ktpl/Thuy/bao-hanh-tre-em.jpg

Hành vi bạo hành trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gì? Mức phạt như thế nào? (Hình từ Internet)

Biểu hiện của hành vi bạo hành trẻ em như thế nào?

Bạo hành trẻ em là những hành vi gây tổn hại đến thể chất, tinh thần hoặc sự phát triển của trẻ. Những hành vi này có thể xảy ra trong gia đình, trường học hoặc ngoài xã hội. Bạo hành trẻ em không chỉ làm trẻ bị đau đớn về cơ thể mà còn ảnh hưởng lâu dài đến tâm lý, khiến trẻ sợ hãi, tự ti và khó phát triển một cách lành mạnh.

Một trong những biểu hiện phổ biến của bạo hành trẻ em là bạo hành thể chất và bạo hành tinh thần. Bạo hành thể chất là việc đánh, tát, đấm, đá hoặc dùng các vật dụng để trừng phạt trẻ, gây ra các vết thương trên cơ thể. Bạo hành tinh thần là việc chửi mắng, sỉ nhục, đe dọa hoặc so sánh trẻ với người khác theo cách tiêu cực, làm tổn thương cảm xúc và lòng tự trọng của trẻ.

Ngoài ra, bạo hành trẻ em còn thể hiện qua việc bỏ bê hoặc xâm hại trẻ. Bỏ bê là khi người lớn không chăm sóc đầy đủ cho trẻ về ăn uống, học tập và sức khỏe. Xâm hại là hành vi lợi dụng sự non nớt của trẻ để thực hiện những việc không phù hợp. Những trẻ bị bạo hành thường có dấu hiệu như sợ hãi, thu mình, học tập sa sút hoặc có vết thương bất thường trên cơ thể.

Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.

Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.

Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn

5 | phamhoangthuy
Giáo dục Kinh tế & Pháp luật

Gửi góp ý