GDKTPL 10 KNTT bài 18: Tại sao Hiến pháp 2013 lại có nội dung về môi trường?
Nội dung chính
Tại sao Hiến pháp 2013 lại có nội dung về môi trường?
Căn cứ theo Điều 63 Hiến pháp 2013 có quy định:
Điều 63.
1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.
3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.
Theo đó, Hiến pháp 2013 có nội dung về môi trường vì bảo vệ môi trường là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với con người và sự phát triển của đất nước. Môi trường không chỉ là nơi con người sinh sống mà còn cung cấp các nguồn tài nguyên thiết yếu cho sản xuất và đời sống. Nếu môi trường bị ô nhiễm hoặc tài nguyên bị khai thác cạn kiệt thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế.
Việc quy định nội dung về môi trường trong Hiến pháp nhằm khẳng định đây là vấn đề quan trọng ở tầm quốc gia, cần được bảo vệ bằng cơ sở pháp lý cao nhất. Đồng thời, Hiến pháp cũng định hướng phát triển bền vững, yêu cầu việc phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, việc đưa nội dung môi trường vào Hiến pháp còn nhằm nâng cao trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng một xã hội phát triển lâu dài và bền vững.

Tại sao Hiến pháp 2013 lại có nội dung về môi trường? (Hình từ Internet)
Việc bảo vệ môi trường cần tuân thủ theo nguyên tắc nào?
Căn cứ theo Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2020 có quy định về các nguyên tắc bảo vệ môi trường như sau:
(1) Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân.
(2) Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển.
(3) Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành.
(4) Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải.
(5) Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cơ chế thị trường, trình độ phát triển kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
(6) Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
(7) Hoạt động bảo vệ môi trường bảo đảm không gây phương hại chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia, gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
