GDKTPL 10 Bài 14: Chủ tịch Quốc hội có quyền làm, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp không?
Xuất bản: 04-08-2026Nội dung chính
Chủ tịch Quốc hội có quyền làm, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 và Điều 120 Hiến pháp 2013, Quốc hội là cơ quan có quyền làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp; Chủ tịch Quốc hội không có quyền tự mình quyết định các vấn đề này.
Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 120 Hiến pháp 2013. Theo khoản 1 Điều này, Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; đồng thời, khoản 4 quy định Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
Như vậy, Chủ tịch Quốc hội chỉ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến việc tổ chức và điều hành hoạt động của Quốc hội trong quá trình Quốc hội xem xét, thảo luận và quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, chứ không có quyền tự mình làm, sửa đổi hoặc bổ sung Hiến pháp.
Quy định này góp phần bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm quyền lập hiến thuộc Quốc hội theo quy định của Hiến pháp, đồng thời khẳng định vai trò của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề đặc biệt quan trọng của Nhà nước và xã hội.

GDKTPL 10 Bài 14: Chủ tịch Quốc hội có quyền làm, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp không? (Hình từ Internet)
Hiến pháp là cơ sở để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 119 Hiến pháp 2013, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Vì vậy, Hiến pháp là cơ sở để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.
Hiến pháp xác lập những nguyên tắc và định hướng cơ bản về chế độ chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trên cơ sở đó, Quốc hội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, Hiến pháp còn là căn cứ để cụ thể hóa các quy định và nguyên tắc hiến định thành những quy định có thể áp dụng trong thực tiễn. Trong khi Hiến pháp quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, các văn bản quy phạm pháp luật sẽ quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể cũng như trình tự, thủ tục và cơ chế thực hiện trong từng lĩnh vực.
Ngoài ra, Hiến pháp còn bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm nội dung của văn bản phù hợp với Hiến pháp. Nếu văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với Hiến pháp thì phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ theo quy định của pháp luật.
Có thể khẳng định rằng, Hiến pháp là nền tảng và cơ sở pháp lý để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời là căn cứ bảo đảm tính hợp hiến và sự thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
