Có phải người vay và người cho vay được tự do thỏa thuận về thời hạn cho vay và lãi suất phải trả?
Nội dung chính
Có phải người vay và người cho vay được tự do thỏa thuận về thời hạn cho vay và lãi suất phải trả?
Trong quan hệ tín dụng, người vay và người cho vay có thể thỏa thuận với nhau về thời hạn cho vay và lãi suất phải trả, nhưng sự thỏa thuận này phải tuân theo quy định của pháp luật.
Tại Điều 23 Thông tư 39/2016/TT-NHNN có quy định như sau:
Điều 23. Thỏa thuận cho vay
1. Thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu có các nội dung sau:
…
e) Thời hạn cho vay; thời hạn duy trì hạn mức đối với trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời hạn duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán;
g) Lãi suất cho vay theo thỏa thuận và mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Thông tư này; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay đối với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức phí áp dụng;
…
Theo đó, trong nội dung của thỏa thuận cho vay phải có điều khoản về thời hạn cho vay và lãi suất cho vay. Điều đó cho thấy pháp luật cho phép các bên chủ động thống nhất với nhau về thời hạn vay ngắn hay dài, cũng như mức lãi suất phù hợp với khoản vay và điều kiện thực tế của các bên.
Tuy nhiên, việc tự do thỏa thuận không có nghĩa là các bên được quyền tùy ý quyết định mà không bị giới hạn. Các thỏa thuận về thời hạn và lãi suất phải tuân theo quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về mức lãi suất và nguyên tắc xác định lãi suất.
Vì vậy, người vay và người cho vay có quyền tự do thỏa thuận thời hạn cho vay và lãi suất phải trả, nhưng sự thỏa thuận đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Có phải người vay và người cho vay được tự do thỏa thuận về thời hạn cho vay và lãi suất phải trả? (Hình từ Internet)
Tín dụng có vai trò như thế nào trong việc huy động vốn, thúc đẩy phát triển kinh tế?
Tín dụng có vai trò quan trọng trong việc huy động và phân phối nguồn vốn trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng, nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại từ các cá nhân, tổ chức có vốn tạm thời chưa sử dụng để chuyển đến những cá nhân, doanh nghiệp đang có nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng. Nhờ đó, nguồn vốn trong xã hội được khai thác và sử dụng hiệu quả hơn, tránh tình trạng vốn bị tồn đọng hoặc lãng phí.
Bên cạnh vai trò huy động vốn, tín dụng còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Khi được tiếp cận nguồn vốn vay, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư máy móc, công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Điều này làm gia tăng sản lượng hàng hóa, tạo thêm việc làm và thúc đẩy lưu thông hàng hóa trên thị trường. Đối với cá nhân, tín dụng giúp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, học tập, nhà ở hoặc đầu tư kinh doanh, từ đó góp phần cải thiện đời sống và kích thích sức mua của xã hội.
Ngoài ra, tín dụng còn là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ. Việc mở rộng hay thắt chặt tín dụng có thể tác động đến lượng tiền lưu thông, lãi suất và hoạt động đầu tư trong nền kinh tế. Vì vậy, tín dụng không chỉ giúp huy động nguồn vốn phục vụ phát triển sản xuất mà còn tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
