Có phải người say rượu không nhận thức được hành vi của mình nên hành vi trái pháp luật gây ra không phải là hành vi vi phạm pháp luật?
Nội dung chính
Có phải người say rượu không nhận thức được hành vi của mình nên hành vi trái pháp luật gây ra không phải là hành vi vi phạm pháp luật?
Để xác định một hành vi có phải là vi phạm pháp luật hay không cần căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý của vi phạm pháp luật, bao gồm: hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện và xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Tại Điều 13 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về trường hợp phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác như sau:
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định trên, trường hợp một người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác thì không được coi là căn cứ để loại trừ trách nhiệm pháp lý. Việc say rượu là trạng thái phát sinh từ hành vi sử dụng rượu, bia của chính người đó nên pháp luật không miễn trừ trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm được thực hiện trong tình trạng này.
Trên thực tế, nếu người say rượu thực hiện hành vi trái pháp luật như gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, hủy hoại tài sản hoặc thực hiện các hành vi vi phạm khác thì vẫn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc say rượu không làm cho hành vi vi phạm đương nhiên mất đi tính chất vi phạm pháp luật.
Như vậy, người say rượu có thể bị hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc hành vi do họ gây ra không phải là vi phạm pháp luật. Nếu hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của vi phạm pháp luật thì vẫn bị coi là vi phạm pháp luật và người thực hiện phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Có phải người say rượu không nhận thức được hành vi của mình nên hành vi trái pháp luật gây ra không phải là hành vi vi phạm pháp luật? (Hình từ Internet)
Một hành vi được coi là vi phạm pháp luật khi có những dấu hiệu nào?
Để xác định một hành vi có phải là vi phạm pháp luật hay không, cần xem xét hành vi đó có đầy đủ các dấu hiệu của vi phạm pháp luật theo quy định hay không. Một hành vi được coi là vi phạm pháp luật khi có các dấu hiệu sau:
- Hành vi trái pháp luật: Là những hành vi làm những điều pháp luật cấm, không thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp luật.
Ví dụ, pháp luật cấm vượt đèn đỏ nhưng người tham gia giao thông vẫn cố tình vượt đèn đỏ.
- Hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện: Người thực hiện hành vi phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để chịu trách nhiệm về hành vi của mình, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đồng thời tự quyết định cách xử sự của bản thân.
- Hành vi có lỗi của chủ thể: Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó gây ra. Lỗi bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý.
+ Lỗi cố ý là trường hợp chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.
+ Lỗi vô ý là trường hợp chủ thể không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng do cẩu thả, thiếu trách nhiệm hoặc quá tự tin nên đã để hậu quả xảy ra.
- Hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ: Hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ như quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước, trật tự và an toàn xã hội.
Ví dụ, hành vi trộm cắp tài sản đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.
Như vậy, một hành vi chỉ được coi là vi phạm pháp luật khi có đầy đủ các dấu hiệu: là hành vi trái pháp luật, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, có lỗi và xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
