Chuyển giao công nghệ là gì? Quyền chuyển giao công nghệ được pháp luật quy định như thế nào?
Nội dung chính
Chuyển giao công nghệ là gì?
Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ 2007 (sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 có hiệu lực từ ngày 01/4/2026) như sau:
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
7. Chuyển giao công nghệ là hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới.
…
Theo đó, chuyển giao công nghệ là hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới.
Thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, chủ sở hữu công nghệ có thể chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu hoặc chỉ chuyển giao quyền sử dụng công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác theo thỏa thuận. Việc chuyển giao này tạo điều kiện cho bên nhận tiếp cận, khai thác và sử dụng công nghệ một cách hợp pháp.
Chuyển giao công nghệ có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, góp phần tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, xã hội.

Chuyển giao công nghệ là gì? Quyền chuyển giao công nghệ được pháp luật quy định như thế nào? (Hình từ Internet)
Có các hình thức chuyển giao công nghệ gì?
Căn cứ Điều 5 Luật Chuyển giao công nghệ 2007 quy định hình thức thức chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Chuyển giao công nghệ độc lập.
- Phần chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
+ Dự án đầu tư;
+ Góp vốn bằng công nghệ;
+ Nhượng quyền thương mại;
+ Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ;
+ Mua, bán máy móc, thiết bị quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Luật chuyển giao công nghệ 2007.
- Chuyển giao công nghệ bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, việc chuyển giao công nghệ bằng hình thức chuyển giao công nghệ độc lập và hình thức góp vốn bằng công nghệ phải được lập thành hợp đồng; việc chuyển giao công nghệ bằng hình thức tại dự án đầu tư; nhượng quyền thương mại; chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và mua; bán máy móc, thiết bị và chuyển giao công nghệ bằng hình thức khác được thể hiện dưới hình thức hợp đồng hoặc điều, khoản, phụ lục của hợp đồng hoặc của hồ sơ dự án đầu tư có các nội dung quy định tại Điều 23 Luật chuyển giao công nghệ 2007.
Quyền chuyển giao công nghệ được pháp luật quy định như thế nào?
Theo Điều 7 Luật Chuyển giao công nghệ 2007 (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 có hiệu lực từ ngày 01/04/2026) quy định về quyền chuyển giao công nghệ như sau:
- Quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được xác lập, công nhận và bảo vệ phù hợp với quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng công nghệ.
- Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó cho tổ chức, cá nhân khác khi chủ sở hữu công nghệ đồng ý bằng văn bản hoặc hình thức khác theo quy định pháp luật.
- Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:
+ Quyền sử dụng công nghệ độc quyền hoặc không độc quyền;
+ Quyền chuyển giao tiếp quyền sử dụng công nghệ của bên nhận chuyển giao cho bên thứ ba.
- Bên nhận chuyển giao công nghệ có quyền cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ trên cơ sở công nghệ được chuyển giao theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trường hợp công nghệ thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của nhiều tổ chức, cá nhân, việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ được thực hiện theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ 2007, pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Trong trường hợp công nghệ được tích hợp trong sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống thì quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ không đương nhiên phát sinh cùng với quyền sở hữu sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác phù hợp với quy định của pháp luật. Quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ phải được xác định riêng biệt với quyền sở hữu sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống có tích hợp công nghệ.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
