Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân là gì?
Nội dung chính
Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân là gì?
Điều 107 Hiến pháp 2013 xác định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định:
1. Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Từ quy định nêu trên có thể hiểu, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động tố tụng hình sự nhằm thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hoạt động này bắt đầu ngay từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Sau đó, Viện kiểm sát tiếp tục tham gia trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.

Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân là gì? (Hình từ Internet)
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm mục đích gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
- Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;
- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.
Nhằm bảo đảm việc thực hành quyền công tố được thực hiện hiệu quả và đúng pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân được giao những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
(i) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
(ii) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
(iii) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
(iv) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;
(v) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;
(vi) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;
(vii) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
(viii) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
(ix) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;
(x) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
(xi) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
