Chỉ được khám nhà khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng không?
Xuất bản: 22-09-2026Nội dung chính
Chỉ được khám nhà khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng không?
Tại Điều 192, 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi bởi khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) quy định như sau:
Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
…
Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
3. Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
…
Từ các quy định trên có thể thấy, việc khám xét chỗ ở chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định tại chỗ ở có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc các tài liệu, dữ liệu khác có liên quan đến vụ án; đồng thời, việc khám xét cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ về thẩm quyền ra lệnh khám xét. Chỉ những người có thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 mới được ra lệnh khám xét và trong một số trường hợp, lệnh này còn phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Những quy định này nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, đồng thời hạn chế việc khám xét tùy tiện, bảo đảm việc khám xét được thực hiện đúng căn cứ, thẩm quyền và trình tự pháp luật.
Vì vậy, nhận định trên là đúng nếu hiểu rằng việc khám xét chỗ ở phải được thực hiện theo lệnh của người có thẩm quyền và đúng căn cứ, trình tự, thủ tục luật định. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi trường hợp đều phải có một “quyết định của cơ quan nhà nước” theo cách gọi chung, bởi pháp luật quy định cụ thể về thẩm quyền ra lệnh khám xét và các yêu cầu đối với việc khám xét, trong đó có quy định đối với trường hợp khẩn cấp.

Chỉ được khám nhà khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đúng không? (Hình từ Internet)
Vì sao việc tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội?
Việc tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở góp phần quan trọng vào việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội vì chỗ ở là không gian sinh sống riêng tư, gắn liền với sự an toàn về thân thể, tài sản và đời sống cá nhân của mỗi người. Khi quyền này được tôn trọng, mỗi cá nhân có thể yên tâm sinh sống mà không lo bị người khác tùy tiện xâm nhập, gây rối hoặc can thiệp trái pháp luật vào không gian riêng của mình.
Bên cạnh đó, việc tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở còn giúp hạn chế các tranh chấp, mâu thuẫn và hành vi vi phạm pháp luật. Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác có thể làm phát sinh xung đột, ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe, danh dự và đời sống riêng tư của cá nhân. Vì vậy, khi mọi người có ý thức tôn trọng chỗ ở của người khác và tuân thủ pháp luật, nguy cơ xảy ra các hành vi gây mất an ninh, trật tự cũng được giảm bớt.
Đồng thời, việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở cũng đòi hỏi việc khám xét chỗ ở phải được thực hiện đúng căn cứ, thẩm quyền và trình tự theo quy định của pháp luật. Điều đó góp phần hạn chế sự tùy tiện trong việc xâm phạm chỗ ở, đồng thời bảo đảm việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện theo đúng quy định.
Như vậy, tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân mà còn góp phần duy trì kỷ cương pháp luật, hạn chế xung đột và xây dựng môi trường xã hội an toàn, ổn định, văn minh.
Thông tin trong bài viết do hệ thống cung cấp nhằm mục đích tham khảo và hỗ trợ học tập.
Chúng tôi không bảo đảm tính đầy đủ tuyệt đối trong mọi bối cảnh và khuyến nghị người học luôn kiểm tra, đối chiếu với tài liệu chính thức.
Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail: AIGiaoDuc@ThuVienPhapLuat.vn
|
